Giới thiệu
Những giấc mơ về thuyền thường thu hút sự chú ý của các tín hữu vì chúng nằm ở giao điểm giữa hình ảnh Kinh Thánh quen thuộc và kinh nghiệm con người về hành trình, hiểm nguy, và được cứu giúp. Một chiếc thuyền trong giấc mơ có thể mang tính rất cá nhân: nó chở người, hàng hóa và hy vọng qua những mặt nước bất ổn. Thật dễ bị cám dỗ khi đối xử với những hình ảnh như những thông điệp một-một, nhưng Kinh Thánh không phải là một cuốn từ điển giấc mơ. Thay vào đó, Kinh Thánh cung cấp các khuôn khổ biểu tượng và những hạng mục thần học giúp tín hữu diễn giải các dấu hiệu. Những khuôn khổ này mời gọi sự suy tư cầu nguyện, phân định trong cộng đoàn, và việc khiêm nhường thử thách theo Lời hơn là những kết luận tiên tri vội vàng.
Biblical Symbolism in Scripture
Trải khắp Kinh Thánh, thuyền bè và biển xuất hiện lặp lại như những biểu tượng. Biển thường tượng trưng cho hỗn loạn, hiểm nguy và sự vô định; thuyền là phương tiện của con người để đi qua những mặt nước ấy. Sự tương phản giữa mong manh của con người và quyền năng tối cao của Thiên Chúa nảy sinh ra nhiều đề tài thần học: quyền tể trị của Thiên Chúa trên tạo dựng, ơn gọi của dân Chúa, thực tế của thử thách, và khả thể của sự cứu rỗi.
Một số tường thuật Kinh Thánh dùng hình ảnh tàu và biển theo những cách định hình suy tư Kitô hữu. Hòm Nô-ê truyền tải phương cách Thiên Chúa gìn giữ trong lúc phán xét và lời hứa giao ước ban cho một cộng đoàn giao ước.
Ngươi hãy đóng một chiếc tàu bằng cây gô-phe, đóng có từng phòng, rồi trét chai bề trong cùng bề ngoài.
Hành trình của Giô-na và cơn bão đẩy ông đến ăn năn cho thấy cách sự bất tuân cá nhân, quyền tể trị của Thiên Chúa, và trách nhiệm cộng đoàn hòa quyện trên biển cả.
1Có lời Ðức Giê-hô-va phán cho Giô-na con trai A-mi-tai như vầy: 2Ngươi khá chổi dậy! Hãy đi đến thành lớn Ni-ni-ve, và kêu la nghịch cùng nó; vì tội ác chúng nó đã lên thấu trước mặt ta. 3Nhưng Giô-na chổi dậy đặng trốn qua Ta-rê-si, để lánh khỏi mặt Ðức Giê-hô-va. Người xuống đến Gia-phô, gặp một chiếc tàu đi qua Ta-rê-si. Người trả tiền quá giang, và xuống tàu đặng đi Ta-rê-si với họ, để khỏi mặt Ðức Giê-hô-va. 4Nhưng Ðức Giê-hô-va khiến gió lớn thổi trên biển; trên biển có trận bão lớn, chiếc tàu hầu vỡ. 5Những thủy thủ đều sợ hãi, ai nầy kêu cầu thần của mình. Ðoạn, họ quăng những đồ đạc trong tàu xuống biển, để cho nhẹ tàu. Giô-na đã xuống dưới lòng tàu, nằm và ngủ mê. 6Chủ tàu bèn đến gần người và bảo rằng: Hỡi người ngủ kia, làm sao vậy? Khá chờ dậy! Hãy kêu cầu Ðức Chúa Trời ngươi. Có lẽ Ðức Chúa Trời sẽ tưởng đến chúng ta, thì chúng ta khỏi chết. 7Kế đó, chúng nói cùng nhau rằng: Hãy đến, chúng ta hãy bắt thăm, để cho biết tai vạ nầy đến cho chúng ta là vì cớ ai. Vậy họ bắt thăm, và thăm trúng nhằm Giô-na. 8Bấy giờ họ nói cùng người rằng: Khá cho chúng ta biết vì điều chi mà tai vạ nầy đến trên chúng ta. Ngươi làm nghề gì, và từ đâu đến? Xứ ngươi ở đâu, ngươi thuộc về dân nào? 9Người trả lời rằng: Ta là người Hê-bơ-rơ, và ta kính sợ, Ðức Giê-hô-va, là Ðức Chúa Trời trên trời, Ngài đã làm nên biển và đất khô. 10Những người ấy cả sợ, và bảo người rằng: Ngươi đã làm việc gì đó? Bấy giờ họ đã biết rằng người trốn khỏi mặt Ðức Giê-hô-va; vì người đã khai ra cho họ. 11Vậy họ nói rằng: Chúng ta sẽ làm gì về ngươi, hầu cho biển yên lặng cho chúng ta? Vì biển càng động thêm mãi. 12Người trả lời rằng: Hãy bắt lấy ta; hãy ném ta xuống biển, thì biển yên lặng cho các anh; vì ta biết rằng ấy là vì cớ ta mà các anh đã gặp phải trận bão lớn nầy. 13Những người ấy bắt tay chèo vào bờ; song không được, vì biển càng nổi lên nghịch cùng họ mãi. 14Họ bèn kêu cầu Ðức Giê-hô-va mà rằng: Hỡi Ðức Giê-hô-va, chúng tôi nài xin Ngài, chúng tôi nài xin Ngài chớ làm cho chúng tôi chết vì cớ mạng sống của người nầy, và chớ khiến máu vô tội đổ lại trên chúng tôi! Hỡi Ðức Giê-hô-va, vì chính Ngài là Ðấng đã làm điều mình muốn. 15Ðoạn họ bắt Giô-na, quăng xuống biển, thì sự giận dữ của biển yên lặng. 16Vì vậy mà những người ấy rất kính sợ Ðức Giê-hô-va. Họ dâng của lễ cho Ðức Giê-hô-va, và hứa nguyện cùng Ngài. 17(2:1) Ðức Giê-hô-va sắm sửa một con cá lớn đặng nuốt Giô-na; Giô-na ở trong bụng cá ba ngày ba đêm.
Các Tin Mừng đặt Chúa Giê-su trên thuyền vào ban đêm, tỏ quyền tể trị của Ngài trước gió và sóng và mời gọi các môn đồ tin cậy giữa nỗi sợ.
35Ðến chiều ngày ấy, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy qua bờ bên kia. 36Khi cho dân chúng tan về rồi, Ðức Chúa Jêsus cứ ở trong thuyền, và môn đồ đưa Ngài đi; cũng có các thuyền khác cùng đi nữa. 37Vả, có cơn bão lớn nổi lên, sóng tạt vào thuyền, đến nỗi gần đầy nước; 38nhưng Ngài đương ở đằng sau lái, dựa gối mà ngủ. Môn đồ thức Ngài dậy mà thưa rằng: Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao? 39Ngài bèn thức dậy, quở gió và phán cùng biển rằng: Hãy êm đi, lặng đi! Gió liền dứt và đều yên lặng như tờ. 40Ðoạn, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi sợ? Chưa có đức tin sao? 41Môn đồ kinh hãi lắm, nói với nhau rằng: Vậy thì người nầy là ai, mà gió và biển đều vâng lịnh người?
Một khoảnh khắc đáng nhớ khác cho thấy Phao-lô bước ra khỏi thuyền và đi về phía Chúa Giê-su, rồi chìm khi đức tin suy yếu; cảnh đó gắn hình ảnh con thuyền với đức tin, nghi ngờ và sự cứu vớt.
28Phi -e-rơ bèn thưa rằng: Lạy Chúa, nếu phải Chúa, xin khiến tôi đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa. 29Ngài phán rằng: Hãy lại đây! Phi -e-rơ ở trên thuyền bước xuống, đi bộ trên mặt nước mà đến cùng Ðức Chúa Jêsus. 30Song khi thấy gió thổi, thì Phi -e-rơ sợ hãi, hòng sụp xuống nước, bèn la lên rằng: Chúa ơn, xin cứu lấy tôi! 31Tức thì Ðức Chúa Jêsus giơ tay ra nắm lấy người, mà nói rằng: Hỡi người ít đức tin, sao ngươi hồ nghi làm vậy?
Hành trình biển đầy nguy hiểm của Phao-lô và vụ đắm tàu trong Công vụ nêu bật sự gìn giữ quan phòng và mục đích truyền giáo ngay cả giữa thảm họa.
13Vừa có gió nam non bắt đầu thổi, họ tưởng rằng có thể tới nơi mình đã định, thì kéo neo mà đi dọc theo gần đảo Cơ-rết. 14Nhưng cách ít lâu có trận gió dữ tợn gọi là gió Ơ-ra-qui-lôn thổi lên vật vào đảo. 15Tàu đã phải bạt đi, chống lại gió chẳng nổi, nên chúng ta để mặc cho theo chiều gió. 16Tàu bị bạt đến dưới một hòn đảo nhỏ kia gọi là Cơ-lô-đa, chúng ta khó nhọc lắm mới cầm được chiếc thuyền. 17Sau khi trục lên, họ dùng phương thế làm cho chắc chắn: lấy dây ràng phía dưới chiếc tàu lại; đoạn lại sợ mắc cạn trên bãi Si-rơ-tơ, thì hạ buồm xuống, để mặc gió đưa trôi đi. 18Ðến ngày mai, vì bão cứ thổi cũng mạnh như vậy luôn, họ bèn quăng hàng hóa xuống biển. 19Ngày thứ ba, chúng ta dùng chính tay mình quăng đồ đạc trong tàu xuống biển. 20Trong mấy ngày mặt trời chẳng có, ngôi sao cũng không, mà bão thì vẫn thổi ào ào luôn, đến nỗi chúng ta chẳng còn trông cậy được cứu nữa. 21Vì họ không ăn đã lâu, nên Phao-lô đứng dậy giữa đám họ, mà nói rằng: Hỡi bạn hữu ta, chớ chi bữa trước tin làm ta mà chẳng dời khỏi đảo Cơ-rết, thì chúng ta đã chẳng mắc cơn nguy hiểm và tổn hại nầy. 22nhưng bây giờ, ta khuyên các ngươi hãy vững lòng; trong các ngươi chẳng mất ai hết, chỉ mất chiếc tàu mà thôi. 23Vì đêm nay, một thiên sứ của Ðức Chúa Trời, là Ðấng ta thuộc về và hầu việc, có hiện đến cùng ta mà phán rằng: 24Hỡi Phao-lô, đừng sợ chi hết; ngươi phải ứng hầu trước mặt Sê-sa; và nầy, Ðức Chúa Trời đã ban cho ngươi hết thảy những kẻ cùng đi biển với ngươi. 25Vậy, hỡi các ông, hãy vững lòng, vì ta có lòng tin cậy Ðức Chúa Trời rằng sẽ xảy ra như lời Ngài đã phán vậy; 26nhưng chúng ta chắc sẽ bị tấp lên một hòn đảo nào. 27Ðã đến đêm thứ mười bốn mà chúng ta cứ trôi nổi trên biển A-đờ-ria-tích, lúc nửa đêm, các bạn tàu ngờ đang đến gần một đất nào. 28Họ thả trái dò xuống, thì thấy sâu hai chục sải; hơi xa một ít, lại thả nữa, thì thấy mười lăm sải. 29Bấy giờ, sợ đụng rạn, bọ bèn từ trên đầu lái tàu quăng bốn neo xuống, và ước ao đến sáng. 30nhưng vì bạn tàu tìm phương lánh khỏi chiếc tàu và thả chiếc tam bản xuống biển, giả đó đi thả neo đằng trước mũi, 31thì Phao-lô nói với thầy đội và lính rằng: Nếu những người nầy chẳng cứ ở trong tàu, thì các ông chẳng được cứu. 32Bọn lính bèn cắt dây buộc tam bản, làm cho rớt xuống. 33Ðoạn, trong khi đợi trời sáng, Phao-lô khuyên ai nấy hãy ăn. Người nói: Hôm nay là ngày thứ mười bốn mà các ngươi đang trông đợi, nhịn đói chẳng ăn chút nào. 34Vậy, ta khuyên các ngươi hãy ăn, vì thật là rất cần cho sự cứu của các ngươi, và chẳng ai trong vòng các ngươi sẽ mất một sợi tóc trên đầu mình. 35Nói như vậy rồi, người bèn lấy bánh, đứng trước mặt mọi người, tạ ơn Ðức Chúa Trời rồi, thì bẻ ra và ăn. 36Bấy giờ ai nấy đều giục lòng, và ăn. 37Vả, số chúng ta hết thảy ở trong tàu được hai trăm bảy mươi sáu người. 38Họ đã ăn vừa no nê, bèn quăng đồ lương thực xuống biển, làm cho nhẹ tàu đi. 39Ðến sáng ngày, họ chẳng nhận biết là đất nào, nhưng thấy có cái vịnh và bờ, bèn định đỗ tàu đó mà núp xem có thể được chăng. 40Vậy, họ dứt dây bỏ neo xuống biển, tháo dây bánh lái; đoạn, xổ buồm sau lái thuận theo gió, tìm lối chạy vào bờ. 41Song chạy nhầm chỗ hai ngọn nước biển xáp nhau, thì họ làm cho tàu bị cạn tại đó; đầu mũi cắm xuống không động đậy được, còn đầu lái bị sóng đánh dữ lắm nên nát hết. 42Bấy giờ quân lính bàn định giết các tù phạm, e có người nào trong bọn họ lội thoát khỏi chăng. 43nhưng thầy đội muốn cứu Phao-lô, nên ngăn trở nghị định đó. Người truyền cho ai biết lội thì nhảy xuống nước trước đi mà lội vào bờ, 44và truyền cho những kẻ còn lại, người thì cỡi trên ván, kẻ thì cỡi trên miếng vách nát của chiếc tàu. Thế là ai nấy đều được lên bờ vô sự vậy.
Các văn bản thánh vịnh và hình ảnh ngôn sứ cũng gợi nhớ thuyền bè và đời sống đi biển như ẩn dụ cho sự lệ thuộc của con người và sự giải cứu của Thiên Chúa.
23Có người đi xuống tàu trong biển, Và làm việc nơi nước cả; 24Kẻ ấy thấy công việc Ðức Giê-hô-va, Xem phép lạ Ngài trong nước sâu. 25Ngài biểu, bèn có trận gió bão, Nổi các lượn sóng lên. 26Ðưa cao đến các từng trời, rồi hụp xuống tới vực sâu: Lòng họ tiêu tan vì khốn khổ. 27Họ choáng váng xiêu tó như một người say, Sự khôn ngoan họ đều mất hết. 28Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Ðức Giê-hô-va, Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan. 29Ngài ngừng bão-tố, đổi nó ra bình tịnh, Và sóng êm lặng. 30Họ bèn vui mừng vì sóng êm lặng; Chúa dẫn họ vào bến họ ước ao.
Khi xem chung, những văn bản này làm cho thuyền trở thành biểu tượng thần học hữu ích cho hội thánh, tín hữu, và thực tại của đời sống giữa những lực lượng vượt ngoài tầm kiểm soát con người.
Dreams in the Biblical Tradition
Kinh Thánh đối xử với giấc mơ theo nhiều cách khác nhau. Đôi khi Thiên Chúa dùng giấc mơ để truyền đạt chân lý hoặc chuẩn bị con người cho sứ vụ. Lúc khác giấc mơ phản ánh lo lắng của con người, cảnh báo thần thánh, hoặc kinh nghiệm thông thường. Chứng nhân Kinh Thánh kêu gọi phân định, khiêm nhường và chịu trách nhiệm khi xem xét các giấc mơ.
Giô-sép có nằm chiêm bao, thuật lại cho các anh mình nghe; họ càng thêm ganh ghét nữa.
Câu chuyện về Giô-sép chứng tỏ rằng Thiên Chúa có thể nói qua giấc mơ và việc giải thích đòi hỏi sự khôn ngoan cùng sự xác nhận quan phòng. Đa-ni-ên và các nhà giải nghĩa Kinh Thánh khác cũng làm gương cho thực hành thận trọng, lấy Thiên Chúa làm trung tâm khi giải thích giấc mơ thay vì giả định mọi hình ảnh ban đêm đều là một sấm ngữ riêng tư.
Trong năm thứ hai đời vua Nê-bu-cát-nết-sa, vua thấy chiêm bao, thì trong lòng bối rối và mất giấc ngủ.
Trong thần học Kitô giáo, giấc mơ không nên được trao quyền tối cao một cách tự động. Chúng phải được xét theo Kinh Thánh, thử nghiệm trong cầu nguyện, và cân đo trong bối cảnh khôn ngoan mục vụ cùng với hoa trái mà chúng sinh ra.
Possible Biblical Interpretations of the Dream
Dưới đây là vài khả thể thần học về việc một giấc mơ thấy thuyền có thể tượng trưng. Những khả năng này được đưa ra như lựa chọn diễn giải dựa trên các mô thức Kinh Thánh, không phải như những dự đoán hay câu trả lời một khuôn cho tất cả.
1) The Boat as the Church or Community on Mission
Một chiếc thuyền có thể biểu trưng cho dân Chúa tụ họp hành trình qua một thế giới bất ổn. Hòm Nô-ê, thuyền của các môn đồ, và tàu của Phao-lô đều mô tả một cộng đoàn cùng nhau điều hướng hiểm nguy dưới sự giám sát của Thiên Chúa. Nếu giấc mơ nhấn mạnh một thủy thủ đoàn làm việc cùng nhau hoặc một con tàu chở hành khách qua mặt nước gập ghềnh, điều đó có thể mời gọi suy ngẫm về niềm tin chung, ơn gọi, và nhu cầu hợp nhất trong thời thử thách.
13Vừa có gió nam non bắt đầu thổi, họ tưởng rằng có thể tới nơi mình đã định, thì kéo neo mà đi dọc theo gần đảo Cơ-rết. 14Nhưng cách ít lâu có trận gió dữ tợn gọi là gió Ơ-ra-qui-lôn thổi lên vật vào đảo. 15Tàu đã phải bạt đi, chống lại gió chẳng nổi, nên chúng ta để mặc cho theo chiều gió. 16Tàu bị bạt đến dưới một hòn đảo nhỏ kia gọi là Cơ-lô-đa, chúng ta khó nhọc lắm mới cầm được chiếc thuyền. 17Sau khi trục lên, họ dùng phương thế làm cho chắc chắn: lấy dây ràng phía dưới chiếc tàu lại; đoạn lại sợ mắc cạn trên bãi Si-rơ-tơ, thì hạ buồm xuống, để mặc gió đưa trôi đi. 18Ðến ngày mai, vì bão cứ thổi cũng mạnh như vậy luôn, họ bèn quăng hàng hóa xuống biển. 19Ngày thứ ba, chúng ta dùng chính tay mình quăng đồ đạc trong tàu xuống biển. 20Trong mấy ngày mặt trời chẳng có, ngôi sao cũng không, mà bão thì vẫn thổi ào ào luôn, đến nỗi chúng ta chẳng còn trông cậy được cứu nữa. 21Vì họ không ăn đã lâu, nên Phao-lô đứng dậy giữa đám họ, mà nói rằng: Hỡi bạn hữu ta, chớ chi bữa trước tin làm ta mà chẳng dời khỏi đảo Cơ-rết, thì chúng ta đã chẳng mắc cơn nguy hiểm và tổn hại nầy. 22nhưng bây giờ, ta khuyên các ngươi hãy vững lòng; trong các ngươi chẳng mất ai hết, chỉ mất chiếc tàu mà thôi. 23Vì đêm nay, một thiên sứ của Ðức Chúa Trời, là Ðấng ta thuộc về và hầu việc, có hiện đến cùng ta mà phán rằng: 24Hỡi Phao-lô, đừng sợ chi hết; ngươi phải ứng hầu trước mặt Sê-sa; và nầy, Ðức Chúa Trời đã ban cho ngươi hết thảy những kẻ cùng đi biển với ngươi. 25Vậy, hỡi các ông, hãy vững lòng, vì ta có lòng tin cậy Ðức Chúa Trời rằng sẽ xảy ra như lời Ngài đã phán vậy; 26nhưng chúng ta chắc sẽ bị tấp lên một hòn đảo nào. 27Ðã đến đêm thứ mười bốn mà chúng ta cứ trôi nổi trên biển A-đờ-ria-tích, lúc nửa đêm, các bạn tàu ngờ đang đến gần một đất nào. 28Họ thả trái dò xuống, thì thấy sâu hai chục sải; hơi xa một ít, lại thả nữa, thì thấy mười lăm sải. 29Bấy giờ, sợ đụng rạn, bọ bèn từ trên đầu lái tàu quăng bốn neo xuống, và ước ao đến sáng. 30nhưng vì bạn tàu tìm phương lánh khỏi chiếc tàu và thả chiếc tam bản xuống biển, giả đó đi thả neo đằng trước mũi, 31thì Phao-lô nói với thầy đội và lính rằng: Nếu những người nầy chẳng cứ ở trong tàu, thì các ông chẳng được cứu. 32Bọn lính bèn cắt dây buộc tam bản, làm cho rớt xuống. 33Ðoạn, trong khi đợi trời sáng, Phao-lô khuyên ai nấy hãy ăn. Người nói: Hôm nay là ngày thứ mười bốn mà các ngươi đang trông đợi, nhịn đói chẳng ăn chút nào. 34Vậy, ta khuyên các ngươi hãy ăn, vì thật là rất cần cho sự cứu của các ngươi, và chẳng ai trong vòng các ngươi sẽ mất một sợi tóc trên đầu mình. 35Nói như vậy rồi, người bèn lấy bánh, đứng trước mặt mọi người, tạ ơn Ðức Chúa Trời rồi, thì bẻ ra và ăn. 36Bấy giờ ai nấy đều giục lòng, và ăn. 37Vả, số chúng ta hết thảy ở trong tàu được hai trăm bảy mươi sáu người. 38Họ đã ăn vừa no nê, bèn quăng đồ lương thực xuống biển, làm cho nhẹ tàu đi. 39Ðến sáng ngày, họ chẳng nhận biết là đất nào, nhưng thấy có cái vịnh và bờ, bèn định đỗ tàu đó mà núp xem có thể được chăng. 40Vậy, họ dứt dây bỏ neo xuống biển, tháo dây bánh lái; đoạn, xổ buồm sau lái thuận theo gió, tìm lối chạy vào bờ. 41Song chạy nhầm chỗ hai ngọn nước biển xáp nhau, thì họ làm cho tàu bị cạn tại đó; đầu mũi cắm xuống không động đậy được, còn đầu lái bị sóng đánh dữ lắm nên nát hết. 42Bấy giờ quân lính bàn định giết các tù phạm, e có người nào trong bọn họ lội thoát khỏi chăng. 43nhưng thầy đội muốn cứu Phao-lô, nên ngăn trở nghị định đó. Người truyền cho ai biết lội thì nhảy xuống nước trước đi mà lội vào bờ, 44và truyền cho những kẻ còn lại, người thì cỡi trên ván, kẻ thì cỡi trên miếng vách nát của chiếc tàu. Thế là ai nấy đều được lên bờ vô sự vậy.
Ngươi hãy đóng một chiếc tàu bằng cây gô-phe, đóng có từng phòng, rồi trét chai bề trong cùng bề ngoài.
2) The Boat as the Individual Soul or Journey of Faith
Đôi khi chiếc thuyền đại diện cho đời sống và đức tin cá nhân của người mơ. Thuyền trưởng, hướng đi, và việc con tàu có đủ điều kiện vượt biển hay không có thể tượng trưng cho sự lãnh đạo, định hướng tâm linh, và tình trạng của linh hồn. Một con tàu vững chãi cập bờ có thể biểu thị kiên trì; một con tàu rò rỉ có thể kêu gọi ăn năn, xưng tội, hoặc tái phụ thuộc vào Đấng Christ.
28Phi -e-rơ bèn thưa rằng: Lạy Chúa, nếu phải Chúa, xin khiến tôi đi trên mặt nước mà đến cùng Chúa. 29Ngài phán rằng: Hãy lại đây! Phi -e-rơ ở trên thuyền bước xuống, đi bộ trên mặt nước mà đến cùng Ðức Chúa Jêsus. 30Song khi thấy gió thổi, thì Phi -e-rơ sợ hãi, hòng sụp xuống nước, bèn la lên rằng: Chúa ơn, xin cứu lấy tôi! 31Tức thì Ðức Chúa Jêsus giơ tay ra nắm lấy người, mà nói rằng: Hỡi người ít đức tin, sao ngươi hồ nghi làm vậy?
3) Storms and Turbulence as Trials with a Lord Who Reigns
Nếu giấc mơ có cảnh bão, nó vang vọng với các trường hợp trong Kinh Thánh nơi đức tin bị thử thách và quyền uy thần thánh được bày tỏ trên hỗn loạn. Hình ảnh như vậy có thể là một gợi ý thần học: Thiên Chúa không vắng mặt trong cơn bão; Ngài đối diện với hỗn loạn và mời gọi dân Ngài tin cậy. Diễn giải này hướng xa nỗi sợ và hướng đến sự nương dựa vào sự hiện diện cứu rỗi của Thiên Chúa.
35Ðến chiều ngày ấy, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Chúng ta hãy qua bờ bên kia. 36Khi cho dân chúng tan về rồi, Ðức Chúa Jêsus cứ ở trong thuyền, và môn đồ đưa Ngài đi; cũng có các thuyền khác cùng đi nữa. 37Vả, có cơn bão lớn nổi lên, sóng tạt vào thuyền, đến nỗi gần đầy nước; 38nhưng Ngài đương ở đằng sau lái, dựa gối mà ngủ. Môn đồ thức Ngài dậy mà thưa rằng: Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao? 39Ngài bèn thức dậy, quở gió và phán cùng biển rằng: Hãy êm đi, lặng đi! Gió liền dứt và đều yên lặng như tờ. 40Ðoạn, Ngài phán cùng môn đồ rằng: Sao các ngươi sợ? Chưa có đức tin sao? 41Môn đồ kinh hãi lắm, nói với nhau rằng: Vậy thì người nầy là ai, mà gió và biển đều vâng lịnh người?
4) Shipwreck, Loss, and the Call to Repentance or Perseverance
Hình ảnh đắm tàu trong Kinh Thánh đôi khi đóng vai trò như cảnh báo chống lại sự ngu dại và như một thiên truyện của sự giải cứu. Một giấc mơ về chìm tàu hoặc đổ nát có thể là một tiếng chuông thức tỉnh tượng trưng để xem xét lại các ưu tiên thuộc linh, ăn năn nơi cần thiết, và tìm sự phục hồi qua Đấng Christ và cộng đoàn Ngài ban.
13Vừa có gió nam non bắt đầu thổi, họ tưởng rằng có thể tới nơi mình đã định, thì kéo neo mà đi dọc theo gần đảo Cơ-rết. 14Nhưng cách ít lâu có trận gió dữ tợn gọi là gió Ơ-ra-qui-lôn thổi lên vật vào đảo. 15Tàu đã phải bạt đi, chống lại gió chẳng nổi, nên chúng ta để mặc cho theo chiều gió. 16Tàu bị bạt đến dưới một hòn đảo nhỏ kia gọi là Cơ-lô-đa, chúng ta khó nhọc lắm mới cầm được chiếc thuyền. 17Sau khi trục lên, họ dùng phương thế làm cho chắc chắn: lấy dây ràng phía dưới chiếc tàu lại; đoạn lại sợ mắc cạn trên bãi Si-rơ-tơ, thì hạ buồm xuống, để mặc gió đưa trôi đi. 18Ðến ngày mai, vì bão cứ thổi cũng mạnh như vậy luôn, họ bèn quăng hàng hóa xuống biển. 19Ngày thứ ba, chúng ta dùng chính tay mình quăng đồ đạc trong tàu xuống biển. 20Trong mấy ngày mặt trời chẳng có, ngôi sao cũng không, mà bão thì vẫn thổi ào ào luôn, đến nỗi chúng ta chẳng còn trông cậy được cứu nữa. 21Vì họ không ăn đã lâu, nên Phao-lô đứng dậy giữa đám họ, mà nói rằng: Hỡi bạn hữu ta, chớ chi bữa trước tin làm ta mà chẳng dời khỏi đảo Cơ-rết, thì chúng ta đã chẳng mắc cơn nguy hiểm và tổn hại nầy. 22nhưng bây giờ, ta khuyên các ngươi hãy vững lòng; trong các ngươi chẳng mất ai hết, chỉ mất chiếc tàu mà thôi. 23Vì đêm nay, một thiên sứ của Ðức Chúa Trời, là Ðấng ta thuộc về và hầu việc, có hiện đến cùng ta mà phán rằng: 24Hỡi Phao-lô, đừng sợ chi hết; ngươi phải ứng hầu trước mặt Sê-sa; và nầy, Ðức Chúa Trời đã ban cho ngươi hết thảy những kẻ cùng đi biển với ngươi. 25Vậy, hỡi các ông, hãy vững lòng, vì ta có lòng tin cậy Ðức Chúa Trời rằng sẽ xảy ra như lời Ngài đã phán vậy; 26nhưng chúng ta chắc sẽ bị tấp lên một hòn đảo nào. 27Ðã đến đêm thứ mười bốn mà chúng ta cứ trôi nổi trên biển A-đờ-ria-tích, lúc nửa đêm, các bạn tàu ngờ đang đến gần một đất nào. 28Họ thả trái dò xuống, thì thấy sâu hai chục sải; hơi xa một ít, lại thả nữa, thì thấy mười lăm sải. 29Bấy giờ, sợ đụng rạn, bọ bèn từ trên đầu lái tàu quăng bốn neo xuống, và ước ao đến sáng. 30nhưng vì bạn tàu tìm phương lánh khỏi chiếc tàu và thả chiếc tam bản xuống biển, giả đó đi thả neo đằng trước mũi, 31thì Phao-lô nói với thầy đội và lính rằng: Nếu những người nầy chẳng cứ ở trong tàu, thì các ông chẳng được cứu. 32Bọn lính bèn cắt dây buộc tam bản, làm cho rớt xuống. 33Ðoạn, trong khi đợi trời sáng, Phao-lô khuyên ai nấy hãy ăn. Người nói: Hôm nay là ngày thứ mười bốn mà các ngươi đang trông đợi, nhịn đói chẳng ăn chút nào. 34Vậy, ta khuyên các ngươi hãy ăn, vì thật là rất cần cho sự cứu của các ngươi, và chẳng ai trong vòng các ngươi sẽ mất một sợi tóc trên đầu mình. 35Nói như vậy rồi, người bèn lấy bánh, đứng trước mặt mọi người, tạ ơn Ðức Chúa Trời rồi, thì bẻ ra và ăn. 36Bấy giờ ai nấy đều giục lòng, và ăn. 37Vả, số chúng ta hết thảy ở trong tàu được hai trăm bảy mươi sáu người. 38Họ đã ăn vừa no nê, bèn quăng đồ lương thực xuống biển, làm cho nhẹ tàu đi. 39Ðến sáng ngày, họ chẳng nhận biết là đất nào, nhưng thấy có cái vịnh và bờ, bèn định đỗ tàu đó mà núp xem có thể được chăng. 40Vậy, họ dứt dây bỏ neo xuống biển, tháo dây bánh lái; đoạn, xổ buồm sau lái thuận theo gió, tìm lối chạy vào bờ. 41Song chạy nhầm chỗ hai ngọn nước biển xáp nhau, thì họ làm cho tàu bị cạn tại đó; đầu mũi cắm xuống không động đậy được, còn đầu lái bị sóng đánh dữ lắm nên nát hết. 42Bấy giờ quân lính bàn định giết các tù phạm, e có người nào trong bọn họ lội thoát khỏi chăng. 43nhưng thầy đội muốn cứu Phao-lô, nên ngăn trở nghị định đó. Người truyền cho ai biết lội thì nhảy xuống nước trước đi mà lội vào bờ, 44và truyền cho những kẻ còn lại, người thì cỡi trên ván, kẻ thì cỡi trên miếng vách nát của chiếc tàu. Thế là ai nấy đều được lên bờ vô sự vậy.
5) Rescue, Provision, and Divine Preservation
Những giấc mơ trong đó một chiếc thuyền tới bến an toàn, một sự cứu giúp bất ngờ xuất hiện, hoặc đồ ăn và nơi trú được cung cấp có thể vang lại các mô thức Kinh Thánh về sự gìn giữ thần thánh. Hòm Nô-ê và những câu chuyện giải cứu gợi rằng Thiên Chúa có thể ban nơi trú ẩn trong cộng đoàn giao ước và qua sự vâng phục trung thành.
Ngươi hãy đóng một chiếc tàu bằng cây gô-phe, đóng có từng phòng, rồi trét chai bề trong cùng bề ngoài.
Mỗi một trong những cách hiểu này cần được thử nghiệm trước Kinh Thánh và tìm kiếm trong đối thoại với những lãnh đạo tinh thần đáng tin cậy. Không cách nào đại diện cho một thông điệp chắc chắn Thiên Chúa đang gửi qua giấc mơ; đúng hơn, chúng là những ống kính Kinh Thánh để suy ngẫm thận trọng.
Pastoral Reflection and Discernment
Khi một tín hữu trải nghiệm một giấc mơ thuyền sống động, phản ứng thích hợp nên mang tính mục vụ và tỉnh táo hơn là giật gân. Bắt đầu bằng cầu nguyện, xin Chúa ban sự khôn ngoan và rõ ràng. Đọc Kinh Thánh có liên quan đến hình ảnh và tìm lời khuyên từ những tín hữu chín chắn hoặc một mục sư. Thử bất kỳ kết luận nào theo phúc âm: liệu diễn giải ấy hướng bạn đến Đức Kitô, ăn năn, yêu mến người thân cận và tin cậy nơi Thiên Chúa không?
Nếu giấc mơ khuấy động lo âu, thực hành những kỷ luật thiêng liêng giúp làm nền cho đức tin: cầu nguyện, xưng tội, đọc Kinh Thánh, và tham gia vào đời sống hội thánh. Các bước thực tiễn—xem xét các mối quan hệ, tìm sự hòa giải, và sắp đặt lại ưu tiên theo giá trị của phúc âm—xuất phát từ suy tư thần học và chăm sóc mục vụ.
Một lưu ý thế tục ngắn gọn: giấc mơ cũng có thể phản ánh những căng thẳng hoặc ký ức đời thường. Dù đây không phải là khung giải thích chủ yếu cho thần học Kinh Thánh, các lời giải thích tự nhiên có thể tồn tại song song với suy tư thuộc linh. Giữ quan sát đó ngắn gọn và đặt nó dưới quyền phân định lấy Kinh Thánh làm trung tâm.
Conclusion
Một giấc mơ về thuyền có thể đầy vang vọng Kinh Thánh: hòm như nơi trú ẩn, các môn đồ trên biển bị bão, hành trình của Giô-na, và vụ đắm tàu của Phao-lô đều dạy về hiểm nguy, quyền tể trị của Thiên Chúa, cộng đoàn, ăn năn và sự gìn giữ. Kinh Thánh không cung cấp một công thức để đọc mọi giấc mơ, nhưng nó cung cấp những hình ảnh và mô thức thần học giúp tín hữu diễn giải những tầm nhìn ban đêm với thái độ khiêm nhường và chăm sóc mục vụ. Các Kitô hữu được khuyến khích thử nghiệm những ấn tượng của mình bằng cầu nguyện, Kinh Thánh, và lời khuyên của hội thánh, tìm kiếm những diễn giải dẫn đến đức tin, ăn năn, và sự tin cậy sâu sắc hơn nơi Đức Kitô hơn là nỗi sợ hay sự chắc chắn.